Home Quán bia trước cổng Sự hy sinh bi tráng của 200 lính sinh viên Đại học...

Sự hy sinh bi tráng của 200 lính sinh viên Đại học Xây dựng

Hơn 40 năm sau trận đánh đầy bi tráng của 200 lính tân binh, vốn là sinh viên trường Đại học Xây dựng, gia đình thân nhân liệt sĩ mới biết đầy đủ tình huống sau hàng chục năm đỏ mắt kiếm tìm.

Các anh hy sinh trong cuộc càn quét khốc liệt của địch vào sáng 3/10/1973 tại rừng tràm thuộc ấp Đá Biên, xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. Hài cốt các anh vĩnh viễn hòa tan trong rừng tràm mênh mông nước, nhưng linh hồn các anh vẫn bất tử trong lòng người dân xã Thạnh Phước. Với họ, các anh là những vị thánh, là những “thành hoàng làng đội mũ cối”.

Năm 1972, cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, hàng vạn sinh viên thủ đô tạm xếp bút nghiên, tình nguyện lên đường “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, trong đó có hàng trăm sinh viên Đại học Xây dựng.

Ông Vũ Trình Tường, người đã từng hòa mình trong cuộc tòng quân hừng hực năm ấy kể lại: “Tôi còn nhớ tháng 9/1972, lúc đó chúng tôi là sinh viên năm thứ hai trường Đại học xây dựng. Nhà trường có một đợt tuyển quân với quy mô lớn. Số sinh viên từ khóa 13 đến khóa 16 nhập ngũ là 225 người, riêng khóa 16 chúng tôi có gần 30 bạn. Hầu hết trong số này đã vượt Trường Sơn vào miền tây Nam Bộ, biên chế vào Trung đoàn 207, Quân khu 8, chiến đấu ở vùng Mỏ Vẹt, biên giới Việt Nam – Campuchia. Đầu tháng 10/1973, Trung đoàn 207 nhận nhiệm vụ bí mật luồn sâu xuống Đồng Tháp Mười thuộc vùng 8, Kiến Tường cũ. Đêm ngày 3/10, Trung đoàn triển khai đội hình hành quân từ Ba Thu (Campuchia) vượt sông Vàm Cỏ Tây đến ấp Đá Biên, huyện Mộc Hóa, tỉnh Kiến Tường (nay thuộc xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An) thì trời vừa sáng nên đơn vị phải ém quân vào các mảnh rừng tràm”.

Năm ấy, nước lên to, các gò đất bị nhấn chìm, chỉ còn những cây tràm kiên cường vươn lên giữa biển nước trắng mênh mông. Rừng tràm thì nhỏ, lại thưa thớt nên không đủ che giấu đoàn quân. Vì lội bộ suốt đêm giữa đồng nước, có đoạn ngập đến tận cổ nên anh em hai tiểu đoàn đều mệt rã rời, nhất là cánh Tiểu đoàn 1. Họ hầu hết là tân binh, trong đó phần lớn là sinh viên trường Đại học Xây dựng mới được bổ sung về đơn vị trước đó hai ngày.

Do chưa quen địa hình đồng nước, chưa có kinh nghiệm chiến trường, sáng hôm sau, lính tân binh để lộ khói khi nấu cơm nên máy bay trinh sát của địch đã phát hiện. Vì Thạnh Phước là đường giao thông huyết mạch để chuyển vũ khí, chuyển quân từ miền Đông xuống miền Tây nên địch thường xuyên sử dụng máy bay trinh sát truy tìm dấu vết bộ đội. Ngay lập tức, hàng chục trực thăng ào đến nhả đạn như mưa. Dưới đất, hơn chục xe bọc thép M113 gắn hỏa lực mạnh ùa đến bao vây.

Trước tình thế vô cùng hiểm nguy, đơn vị nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu với tinh thần cảm tử, quyết mở đường máu để đưa sở chỉ huy Trung đoàn thoát khỏi vòng vây. Các chiến sĩ tân binh Tiểu đoàn 1 đã bám chặt trận địa, chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Họ tận dụng từng gốc tràm, bụi cỏ, lội nước ngang ngực, ngoan cường chiến đấu từ 8h sáng đến mãi chiều tàn tiếng súng mới im. Gần 200 chiến sĩ hy sinh trên đồng đất Tháp Mười, không một ai chịu đầu hàng địch”.

Những ngày sau, địch vẫn tiếp tục đưa trực thăng tới càn quét nhằm tiêu diệt bất cứ mầm sống nào còn sót lại trên cánh rừng tràm mênh mông nước. Tàn bạo hơn, không chỉ dội mưa bom bão đạn, địch còn cho quân chốt các ngả không cho bộ đội ta vào lấy thi hài tử sĩ và cứu thương binh. Mãi 12 ngày sau, khi địch rút, đại đội trinh sát cùng du kích địa phương mới tổ chức được lực lượng tìm đồng đội.

Ông Phan Xuân Thi (thường gọi là Ba Thi), nguyên là lính trinh sát Trung đoàn 207, hiện là Trưởng ban liên lạc bạn chiến đấu và cựu chiến binh Trung đoàn 207, kể lại: “Khi đó, đơn vị giao nhiệm vụ cho đội trinh sát cùng du kích địa phương đêm đêm bơi xuồng tìm đồng đội. Duy nhất còn một chiến sĩ bị thương nặng được cấp cứu kịp thời, còn lại gần 200 thi thể nổi trên mặt nước, dạt vào cạnh những thân cây, bên những bông súng, bông điên điển.

Chúng tôi phải dùng màn để vớt từng phần thi thể các anh, rồi gom các mảnh xương còn mắc trên cành cây. Đồng Tháp Mười đang mùa nước nổi. Do xung quanh toàn nước, không có đất chôn nên chúng tôi phải bó từng thi thể lại, bọc trong bao ni lông, buộc chặt vào thân cây tràm ngâm trong nước lũ, chờ đến mùa khô nhờ đồng bào chôn giúp. Chúng tôi cũng chỉ tìm được khoảng 40 thi hài. Số anh em còn lại do đêm tối cây cỏ um tùm không thể tìm thấy. Chiến trường ác liệt, đơn vị lại phải tiếp tục hành quân, đắng lòng gửi đồng đội nằm lại Đồng Tháp Mười đầm lầy chua mặn”.

Chiến trường ngày càng ác liệt. Đơn vị lại tiếp tục hành quân vào trận chiến mới. Xác các chiến sỹ bị ngâm trong nước lâu ngày trương phềnh rồi trôi dạt khắp cánh đồng, trắng cả một vùng rộng lớn. Rồi chiến dịch Hồ Chí Minh, rồi chiến tranh biên giới Tây Nam. Theo yêu cầu nhiệm vụ mới, Trung đoàn 207 giải thể, khu 8 sát nhập khu 9, tỉnh Kiến Tường sát nhập vào tỉnh Long An, Long An sát nhập vào Quân Khu 7. Trận đánh bi tráng với cái chết của gần 200 tân binh sáng ngày mồng 3 tháng 10 năm 1973 ấy, chẳng thấy ai nhắc đến.

Sau năm 1975, dân tứ xứ đổ về ấp Đá Biên, xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa khai hoang. Nhiều người vật đất lên làm nhà thấy có nhiều xương cốt. Anh Nguyễn Văn Tư, dân địa phương thường gọi là Tư Tờ, khi đó còn nhỏ, mới 12 tuổi, thường chèo xuồng đi lượm bình tông đựng nước, cà-mèn, mũ cối… Có lần nhặt được chiếc mũ, nâng lên anh giật mình kinh hãi khi thấy bên trong mũ còn nguyên chiếc sọ đầu lâu. Anh nghe dân làng bảo, xương cốt, bình tông ấy là của những người lính ngoài Bắc chết trong một trận đánh thảm khốc. Họ bị bỏ rơi nên hài cốt trôi dạt khắp nơi. Họ chết hầu hết khi mới mười tám, đôi mươi, chết trẻ nên rất thiêng.

Khi màn đêm buông xuống, nhiều người trong ấp thường nghe tiếng khóc than vì đói khát, tiếng kêu gào đau đớn vì thi thể mắc kẹt giữa các lùm cây trong rừng tràm. Có người trong ấp khi gom củi khô và lá tràm đốt lấy tro bón ruộng, vô tình đốt lẫn cả hài cốt, bị vong linh các chú bộ đội về phạt vạ, khiến cho hóa điên, chữa mãi không khỏi.

Tin vào sự hiển linh của các chú bộ đội, nhiều người dân vào ngày rằm, mồng 1, thường làm cơm cúng cầu xin các linh hồn liệt sĩ phù hộ độ trì làm ăn hanh thông, gia đình khỏe mạnh. Cá nhân anh Tư Tờ cũng có những trải nghiệm tâm linh hết sức kỳ lạ. Năm 1990, anh làm ruộng phát hiện thấy 3 bộ hài cốt không còn nguyên vẹn. Xót thương, anh đắp một nấm mồ chôn chung. Thắp nén hương thơm, anh chắp tay lầm rầm khấn nguyện hương linh các liệt sĩ có linh thiêng thì phù hộ cho gia đình vụ mùa này bội thu để sớm thoát cảnh cơ hàn.

Nếu linh ứng, anh sẽ lập miếu thờ cúng. Chẳng biết có phải do các liệt sĩ phù hộ hay không, năm ấy, anh Tư Tờ trúng vụ mùa lớn, đạt hơn 500 giạ thóc. Vợ chồng anh vui mừng khôn xiết. Song do mải làm ăn nên anh quên mất lời hứa với các liệt sĩ. Đêm nọ, bé Nguyệt, con gái đầu, sinh năm 1981, vừa tròn 9 tuổi, đang khỏe mạnh bỗng lăn đùng ra ốm. Mặt xám ngoét, mắt thất thần, suốt ngày cháu ôm đầu kêu la vì đau đớn. Vợ chồng anh bán thóc lấy tiền ôm con đi chữa chạy khắp các bệnh viện mà không khỏi. Buồn bã, bất lực. Tối nọ, đang thiu thiu ngủ, anh chợt nghe tiếng trách móc, giọng đầy ai oán: “Nói lời phải giữ lấy lời. Đừng như con bướm đậu rồi lại bay”. Anh giật mình tỉnh giấc. Sực nhớ đến lời khấn nguyện và lời hứa hôm nào, sáng sớm hôm sau, anh vội lập một miếu thờ trong khuôn viên đất nhà. Chị Mai Thị Tiếp, vợ anh, sửa soạn mâm cơm cúng. Kỳ lạ sao, chỉ vài ngày sau, bé Nguyệt lành bệnh. Anh Tư Tờ nhớ lại: “Gọi là miếu cho oai chứ thực ra tui chỉ dựng bốn cái cột, kiếm mấy tàu lá về chằm rồi lợp lên trên. Sau mùa lúa, tui chèo ghe ra mua mấy viên gạch, chút xi măng về sửa lại. Miếu “bêtông hóa” rồi mà vẫn còn nhỏ xíu, vợ chồng tui cảm thấy chưa yên. Nghe nói mấy anh chết ở đất này cả mấy trăm người, miếu chút xíu vậy sao mà thờ cho đủ, tội lắm. Không có tiền thì vợ chồng vay mượn để làm”. Nghe chồng nói vậy, chị Tư Tờ cười hiền: “Tui chèo xuồng ra chợ hỏi mua tấm thiếc mà hổng đủ tiền. Vậy là chèo về, đi mượn 1 chỉ vàng bán được 300.000 đồng mua vật liệu, mướn ông thợ về mần ba ngày mới xong. Ông thợ chỉ lấy tiền công hai ngày, còn một ngày làm ủng hộ chiến sĩ”.

Hàng ngày, mỗi khi rảnh rỗi, chị Tư Tờ lại đến miếu dọn dẹp, châm nước, thắp hương. Thấy chị cúng cơm, nhiều người đi ngang qua hỏi thăm. Biết anh chị dựng miếu để thờ các liệt sĩ, bà con tới thắp hương dần đông. Chính dân làng đã đặt tên cho miếu thờ là miếu “Bắc Bỏ” với hàm ý: bộ đội người Bắc chết bỏ xác nơi đây. Lúc đầu miếu thờ còn nhỏ, lợp gianh lá cỏ, cột và khung mái làm bằng mấy cây gỗ tràm khẳng khiu, dựng trên mô đất rộng chừng 20 m2. Sau này, mỗi năm gia đình anh Tư Tờ cùng bà con trong ấp vật đất đắp bồi nên khuôn đất rộng cả trăm m2, cất lại ngôi miếu to cao hơn, lợp mái tôn vừa làm nơi thờ cúng liệt sĩ, vừa làm chỗ cho dân đi làm ruộng có chỗ nghỉ chân hay trú mưa, tránh nắng. Hàng năm, vào ngày các anh hy sinh, nhằm mồng 8 tháng 9 âm lịch, bà con trong vùng túm lại làm đám giỗ tập thể. Không chỉ người ở rạch Đá Biên mà người từ miệt kênh trên, kênh giữa và các xã khác cũng về. Thức cúng ai có gì đem nấy: từ con cá, con lươn, cặp vịt xiêm hay mấy chai rượu trắng.

Có năm bà con về đông quá không đủ bát ăn phải ăn bằng cái nắp ấm. Đám cúng buổi sáng nhưng mọi người ở lại tới chiều tối, ca vọng cổ, gõ phách, gõ chén, gõ thùng cho các liệt sĩ nghe ấm lòng. Có năm bà con ở lại đông, uống hết 130 lít rượu. Ăn đám năm này, bà con tự động góp mỗi người 5.000-10.000 đồng gây quỹ để mua nhang đèn, cúng cơm, làm đám năm sau.

Với người dân nơi đây, các anh là những “thành hoàng làng đội mũ cối”.

Most Popular