HomeQuán bia trước cổngCa đẻ khó của cô thanh niên xung phong trong hàng rào...

Ca đẻ khó của cô thanh niên xung phong trong hàng rào điện tử McNamara

Đêm cuối tháng Mười, giới tuyến tạm thời xám ngắt. Dưới những bọng mây ủng nước như bụng trâu chửa, những cơn mưa hóa chất nhằm hủy diệt mọi sự sống được “chế tạo” từ bên kia đại dương đang treo lơ lửng trên đầu những đoàn quân chi viện cho chiến trường. Chúng tôi vẫn đi trên cái bẫy được giương sẵn ấy.

Tin phương Tây loan rằng, hơn ba tháng chụm đầu trong một căn cứ tuyệt mật ở Wellesley, bang Massachusetts, cuối tháng 8 năm 1966, bốn mươi bảy bộ óc thông tuệ nhất, tiêu biểu cho cỗ máy chiến tranh Mỹ do giáo sư Keysen, thuộc trường đại học Hawaii cầm đầu đã đệ trình lên ngài McNamara Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ kế hoạch xây dựng một hàng rào chống thâm nhập, một hệ thống báo động, các biện pháp do thám, các kỹ thuật làm trụi lá cây và các vũ khí hủy diệt cả một khu vực cắt ngang tuyến đường Trường Sơn nhằm chặn diệt làn sóng thâm nhập của quân chủ lực Bắc Việt vào chiến trường.

Theo mô tả của ngài Keysen thì đây là một bãi tha ma, một lò sát sinh rộng từ 20 tới 40 cây số vắt từ biển Đông trùm lên vĩ tuyến 17 tới tận Sê pôn – Mường Xén trên đất Lào dài hơn một trăm cây số. Trong mảnh đất chết đó sẽ có một dải mìn sát thương rộng 5 cây số chuyên làm nát bàn chân và cụt cẳng đối phương, một hệ thống báo động điện tử kiểm tra từng centimet vuông mặt đất, một đội bay 24 giờ mỗi ngày. Mỗi tháng, hàng rào được bổ sung 20 triệu mìn “sỏi” mìn “lá” các loại. Hàng rào điện tử khủng khiếp này được mang tên ông chủ Lầu Năm Góc, ngài Bộ trưởng Quốc phòng McNamara và mỗi năm nó ngốn hết 800 triệu đô la…

Chúng tôi đi hàng một cách không xa cứ điểm của đơn vị Thủy quân lục chiến Mỹ. Thỉnh thoảng pháo sáng từ Tân Lâm và xa hơn là Cồn Tiên, Dốc Miếu thi nhau phụt lên, tỏa ra một vùng sáng nhợt nhạt như để tự trấn an. Không gian hoàn toàn tĩnh lặng, tôi nghe rõ hơi thở nặng nhọc của người phía sau, không một tiếng động của loài gậm nhấm, không cả tiếng rả rích của côn trùng. Dường như từ ngày ông “Mác” chọn nơi đây làm đất chết, giun dế cũng đã bỏ đi cả.

Đêm đêm đưa khách qua lại trên tuyến đường này, chúng tôi không có quyền lựa chọn, dù biết mỗi mét vuông trong cái “Hàng rào điện tử” này đều có thể là một cái bẫy giết người. Chập tối, trước lúc vượt qua lằn ranh, chúng tôi lặng lẽ nhìn vào mắt nhau, xiết chặt bàn tay nhau hơn. Có đứa còn ôm hôn nhau. Bởi mấy tháng nay, mỗi tốp quân vào, quân ra qua tuyến đường này anh em chúng tôi phải “nằm lại” nhiều hơn. Có khi bị mìn xé nát, lần mò nhặt được một nhúm xương thịt lẫn lộn, ôm về đóng áo quan, chia mỗi cái một ít mà chôn cất, vẽ sơ đồ, ghi dấu cho mai sau.

Vậy mà đêm ấy, cái đêm cuối tháng 10 ấy, tiểu đội đường dây chúng tôi không chỉ về đủ mà còn có một đứa con. Cả tiểu đội được gọi bằng bố. Một đứa con trai nghiêm chỉnh cất tiếng khóc rất to, vang như tiếng hát ngay trong cái hàng rào điện tử chết chóc mà giặc Mỹ dựng lên.

Westmoreland, vị tướng 4 sao, Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam mô tả sức mạnh đánh chặn nguồn tiếp tế của Việt Cộng trên tuyến đường Trường Sơn, mà ngày ấy chúng tôi không ngờ tới: Tiến sĩ Milan và các nhà khoa học Mỹ đã tìm ra một thứ hóa chất lúc hòa với nước và đất thì sẽ làm cho đất nhão nhoét… Vào đầu mùa mưa họ đã dùng máy bay C130 rải hàng tấn hóa chất đó xuống một con đường hẹp ở thung lũng A Sầu…
Chưa hết, nền công nghệ chiến tranh khổng lồ của Hoa Kỳ còn nghĩ ra nhiều vũ khí “tai quái” khác để làm tê liệt con đường Trường Sơn tuyến giao thông huyết mạch của cuộc kháng chiến giành độc lập của nhân dân ta: Loại máy People Sniffer có thể phát hiện được người thông qua mùi nước tiểu. Loại mìn Mark 36 sẽ phát nổ khi có người động nhẹ vào, thậm chí chỉ đi qua gần nó… Loại máy bay Spooky được cải tiến tinh xảo chuyên hoạt động trên đường mòn Hồ Chí Minh, có thể nghe được thông tin từ các máy “gián điệp”, rải khắp nơi trên mặt đất…

Tiểu đội trưởng Cới khoát tay ra phía sau làm hiệu chúng tôi dừng lại, phân tán theo đội hình chiến đấu. Đằng trước chúng tôi, từ một con dốc nhỏ, ì ạch một tốp người nặng nhọc, lặng lẽ hiện dần ra cùng một cáng thương. Bên trong cái tăng trùm che mưa tiếng rên đứt đoạn, kìm nén cứ bật ra theo nhịp lắc của chiếc cáng.

– Đứng lại – Tiếng Cới đanh, dứt khoát – đơn vị nào? Tắt đèn đi, nó “ruốc” cho bỏ bu bây giờ.

– Dạ. Chúng tôi ở bên thanh niên xung phong – Một cậu chỉ tay vào cáng – Cô ấy đang đau đẻ, chúng tôi liều vượt tuyến ra bệnh xá của đoàn.

Chúng tôi ngơ ngẩn nhìn nhau. Tiếng rên quằn quại phát ra càng làm rối trí bảy thằng con trai còn đầy lông tợ trên má. Chỉ có Cới lớn hơn chúng tôi vài tuổi. Cới người Thái Bình, trước lúc nhập ngũ đã kịp lấy vợ, có một con trai. Phải cái Cới rất nóng tính, lúc cuống lên càng hay văng tục. Mà cái dân Thái Bình lạ thế, những từ nơi khác cho là tục tĩu thì Cới bảo quê anh ta không cho là tục. Lúc này Cới là người giàu kinh nghiệm nhất trong chuyện chửa đẻ của đàn bà.

– Chúng tôi lo quá. Đường phía ngoài có dễ đi không anh. Cô ấy đau từ trưa, chúng tôi sợ…

Cới nhằng cái hạt sáng đèn pin chỉ còn như hòn bi vào mặt người vừa nói, hỏi:

– Cậu là thế nào với cô ta?

– Dạ, em là…

– Mẹ khỉ! Không nhịn thêm được vài năm nữa à. Đau kiểu này thì chỉ có nước đẻ ngay ở đây chứ đi đâu nữa. Mẹ khỉ, toàn một lũ đực dựa.

Cả lũ chúng tôi đứng chôn chân nghe Cới chửi. Hắn ta lật mảnh tăng, soi đèn vào cáng rồi nhổ nước miếng, giọng đầy nghiêm trọng:

– Vỡ mẹ nó “ối” rồi đây này. Hai thằng, có thằng nào là y tá không?

– Dạ, em là y tá nhưng chưa đỡ đẻ bao giờ ạ.

– Mẹ khỉ. Thì ai đỡ bao giờ. Bông băng, dao kéo có không?

– Có ạ

Thôi đành vậy. Đưa cô ta vào lùm cây kia. Tất cả bỏ tăng võng áo mưa ra. Chặt cây làm lán. Che cho kín kẻo nó “ruốc” cho mất chỗ đội nón. Còn mấy anh kia lại đây tìm cách đun vài hăng gô nước sôi, nhanh lên…

Có lần tôi đã nghe Cới bảo: “vợ tớ đẻ thằng cu tí lúc tớ mới hai mươi tuổi. Cô ấy la hét to quá, tớ sợ ướt hết cả lưng áo, cứ ghé mắt chỗ khe vách trạm xá nhìn. Bà cụ tớ chửi toáng lên, đuổi ra. Lúc lâu thấy im im, tớ lò mò vào, thì ra cô nàng đẻ xong rồi. Nhìn thấy tớ hắn ta toét miệng cười, tớ mới ghé tai hỏi “đau bụng gì mà sáu, bảy tiếng đồng hồ, chắc lại giả vờ”. Hắn mách bà cụ, cụ lại chửi tớ trận nữa rồi giảng giải nào đau bụng đẻ phải qua mấy bước từ lâm râm, quằn quại, rồi mới đến vỡ ối… những cái ma cái tội gì đó nữa, nghe khiếp lắm. Lại bảo có người vợ đẻ khó, kêu la mãi cạn cả hơi, chồng phải trèo qua nóc nhà, lội qua ao hoặc vác vồ, đóng cọc chuồng lợn cho vợ dễ đẻ..:.” Tôi chả tin những chuyện đó nhưng trong hoàn cảnh này thì không ai là người giỏi hơn Cới. Chẳng gì thì hắn cũng đã có vợ, có con, hắn bảo gì chúng tôi đều răm rắp làm theo.
Một cái ổ đẻ bằng tăng, võng trải cạnh bếp, những cặp lồng nước sôi, ca nhôm pha sữa… đã sẵn sàng, chúng tôi đứng đờ cả ra nhìn Cới. Hắn quát:

– Bây giờ ra ngoài hết. Bốn cậu làm nhiệm vụ cảnh giới, còn tất cả quay lưng lại, cấm nhòm. Chỉ tôi với y tá ở trong này.

Tất cả chúng tôi lục đục kéo nhau đi ra. Thằng Huệ lẩm bẩm:

– Lão Cới khôn bỏ mẹ.

“Armed Forces Journal” – Tờ tạp chí của Lục quân Mỹ mô tả sức mạnh hủy diệt của “chiến trường điện tử” trong cuộc chiến đấu giành quyền kiểm soát đường mòn Hồ Chí Minh: Nhũng gì xảy ra ở đây hôm nay có thể tác động đến tương lai của mỗi người mặc áo lính ở mỗi nước trên thế giới, chiến tranh đã trở thành chiến tranh điện tử. Ủy ban quân lực Thượng viện đã có những buổi điều trần… một biên bản đã qua kiểm duyệt được đưa ra công khai và lần đầu tiên thế giới được biết đến cuộc chiến tranh bí mật nhất này là mọi thời đại…

Khái niệm về cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh là chọn các “yết hầu” hoặc các giao lộ đánh phá với mật độ cực lớn, làm cho giao thông tê liệt rồi rải các loại mìn phá hủy phương tiện, mìn sát thương và hệ thống máy “gián điệp” để theo dõi… “Đội quân viễn chinh” ấy đang hiện diện chung quanh chúng tôi, được tác giả bài báo là George Weiss mô tả một cách đầy hào hứng: MAAPM, mìn sát thương trên diện rộng. Hình tròn, có rãnh, “lên cò” tự động. M36, bom chùm cháy. Mỗi bom mẹ chứa 182 bom con. M36 là tử thần của các loại xe,.. bãi xe và kho tàng. BLU.31 mìn; 705 bảng, chui sâu xuống lòng đất, tự động nổ tung khi có xe cộ đi qua. PAVE PATH, nặng tới 2.500 bảng, thả bằng dù, khi nổ phát quang 4 -5.000 mét vuông cây rừng. MK36… GRAVEL… CBU.24… CBU.49, bom dẫn bằng la de. Bom dẫn bằng điện quang EO. Mìn Grasshopper… Các loại máy cảm ứng: Xơ-pai-kơ-boi, Ơ-kao-boi, Ach-đu-xit, At-xit… những cái tai bí mật nghe được cả tiếng “thở dài” nén trong lồng ngực đối phương. Mỗi tháng “chiến trường điện tử” còn được rải bổ sung hàng chục triệu mìn lá và bom sát thương đra-gơn-tut (răng rồng) có sức ép rất lớn, phá nát bàn chân người và bất cứ sinh vật nào dại dột bước vào mảnh đất ấy… Có lẽ chưa một trận đánh nào, một sự chờ đợi nào, ngay cả lúc nằm giữa hai đợt bom B52 làm chúng tôi sốt ruột, thấp thỏm như lúc này. Cơn đau đẻ của cô gái trồi lên, sụt xuống cùng với tiếng la xé ruột:

– Nó ra, anh gì ơi nó ra… đấy, chỗ này này. Em chết mất.

Chồng cô gái nhấp nhổm, loi choi cố thò mặt vào bên trong lán. Tiếng Cới quát rất tục. Cái giọng lại thủng thẳng ông cụ non, nghe tức anh ách:

– Ra đ… đâu mà ra. Ông đứng đây, mắt mù à mà không biết. Gào cho lắm vào lấy cứt hơi mà đẻ!

Cứ thế, cả tiểu đội lính trẻ chưa một lần biết thế nào là yêu đương thấp thỏm, trồi sụt cùng cơn đau bụng của cô trong cái bãi mìn của hàng rào điện tử. Phải đến gần nửa đêm trong tiếng mưa rơi não nề, một tiếng trẻ bỗng vỡ tóa ra trong cái tĩnh lặng rợn người của chiến địa. Chúng tôi không ai bảo ai cùng ùa vào lán. Cới cuộn cái sinh vật bé nhỏ, đỏ hỏn trong lượt áo bông lính miệng ngoác ra:

– Thắng rồi Con trai nghiêm nhé.


Cả tiểu đội chúng tôi, bố thằng bé và hai anh chàng cáng thương bên thanh niên xung phong ngây người đứng nhìn. Dường như lúc này tôi chỉ còn nghe thấy tiếng thằng bé khóc mà như cười, ào ã, vang dội át cả tiếng mưa, cùng tiếng gầm gào của tụi máy bay địch không ngừng quần đảo như thằng mù trên vòm trời ẩm thếch. Vẫn tiếng Cới quay về phía ông bố trẻ đương dở cười dở mếu:

– Này, lại mà bế con chứ.

Tội cậu là to lắm đấy biết chửa? ông mãnh? Bây giờ mới để ý đến cái “ổ đẻ”, mặt đứa nào đứa ấy đỏ rần vì xấu hổ và toát mồ hôi nghĩ đến cái cách đỡ đẻ rất chi là “đấu vật” của ông Cới. Thu xếp cho mẹ con cô Lẻ nằm êm trong góc lán, chúng tôi cùng dốc ba lô xem còn gì. Vài phong lương khô, ít bột trứng trộn đường, gói pôlivitamin, mấy thanh kẹo lạc ăn dở… thành bữa liên hoan mừng cu Thắng ra đời. Mẹ cu Thắng nước mắt lưng tròng xin bác Cới đặt tên cho cháu là Thắng như tiếng reo đầu tiên của bác. Và cả bảy thằng lính hoi chúng tôi đều được coi là bố đỡ đầu. Hung hăng, bạo miệng thế mà lúc này Cớ; lúng túng vụng về đến tội nghiệp. Anh chàng mặt đỏ như gà chọi, ấp a ấp úng, mãi mới nói như đôi lời chúc mừng cu Thắng, thơm lên trán nó rồi chuyền cho chúng tôi. Miệng Cới lẩm bẩm:

– Mẹ khỉ, bà “xề” tớ ở nhà mà biết chuyện này thì chỉ có nước ôm manh chiếu ra hè ngủ.


Sau chiến thắng lịch sử mùa Xuân năm 1975, nhiều tờ báo phương Tây mới dần công khai nói tới thất bại của hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra cũng như “cuộc chiến tranh điện tử” của Mỹ nhằm cắt đứt hoạt động của đường mòn Hồ Chí Minh. Ông Van Gây-tơ, một học giả người Pháp đã viết rất hay trong cuốn “Đường mòn. Hồ Chí Minh”: “Cắt đứt con đường mòn Hồ Chí Minh? Khó lòng thực hiện nổi. Mãi đến nay người ta mới đánh giá như vậy. Cũng còn một số ít người tưởng rằng phá hủy được con đường này là hết chiến tranh. Những người Việt Nam và những người Mỹ có óc thực tiễn đều hiểu rõ rằng khắp nơi ở Đông Dương, người Bắc Việt Nam và Việt Cộng, những bậc thầy trong nghệ thuật chiến tranh du kích có những nơi cất giấu vũ khí đạn dược đầy đủ để tiếp tục cuộc chiến này trong thiều tháng, ngay cả nhiều năm nữa nếu ngay ngày mai đây không còn có gì trên con đường mòn Hồ Chí Minh nữa…” Không ai có thể làm ngừng bánh xe lịch sử, ngăn chặn làn sóng của những huyền thoại. Những câu chuyện đã sống, đã được thi vị hóa mà người ta thường kể lại cho nhau nghe khi trú quân buổi chiều, sau một ngày căng thẳng ở tiền tuyến mà ở đó thần chết đã mười lần sờ mó vào người anh rồi … Ngày mai các anh ấy lại đi trên con đường ra tiền tuyến, con đường đã trở thành một biểu tượng của độc lập Nhưng tôi dám chắc rằng ông Van Gây-tơ không biết đến chuyện giữa hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra, mảnh đất đã được cả nền công nghiệp chiến tranh Mỹ gài cái chết vào từng xăng-xi-mét vuông ấy, đêm 27 tháng 10 năm 1961, một nữ chiến sĩ thanh niên xung phong của tuyến đường Trường.Sơn đã thực hiện một ca sinh nở bình thường trọn vẹn. Điều đó có được coi là một huyền thoại chăng. Một kỳ tích đầy chất thơ chăng.

<Mem Quán bia – Vũ Lạnh Tú sưu tầm>

Most Popular